NGUYỄN KIẾN GIANG - “Hạt giống đỏ Mác-xít” trở thành Nhà lý luận dân chủ tiên phong
BVN - Nguyễn Kiến
Giang sinh ngày 22-1-1931 ở làng Quảng Xá, xã Tân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh
Quảng Bình trong một gia đình Nho học. Kiến Giang là tên con sông chảy qua
làng ông. Kiến Giang học đến deuxième année tức năm thứ hai trung học đệ nhất cấp.
14 tuổi ông đã hoạt động trong hàng ngũ Việt Minh. 17 tuổi đã là Huyện ủy viên
rồi Tỉnh ủy viên tỉnh Quảng Bình. Năm 1956 ra Hà Nội giữ chức Phó Giám đốc Nhà
xuất bản Sự Thật. Tác phẩmViệt Nam năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám của
ông được Trường Chinh đánh giá rất cao. Ông kể: Viết xong 400 trang sách tôi gửi
cho ông Trường Chinh. Ông gọi lên nói: Rất tốt! Ông Trường Chinh chỉ sửa có một
chữ và sách được in năm 1961.
Chính vì thế mà
năm 1962 ông được cử đi học trường Đảng Cao cấp ở Liên Xô để làm “hạt giống đỏ”
cho lý luận của Đảng trong tương lai. Tháng 9-1953 Khruschov lên Tổng Bí thư,
phê phán tệ sùng bái cá nhân Stalin và chủ trương các nước khác nhau về thể chế
chính trị có thể chung sống hòa bình, đặt vấn đề chống chủ nghĩa cá nhân, dân
chủ hóa đời sống xã hội. Ở Trung Quốc, Mao Trạch Đông phê phán Liên Xô là xét lại,
chủ trương phải tiêu diệt đế quốc sạch sành sanh.
Tháng 12-1963 ta
họp Hội nghị Trung ương 9, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng xác định lập trường
Trung Quốc, không chấp nhận báo cáo chính trị của Hoàng Minh Chính ủng hộ lập
trường của Liên Xô. Những người Cộng sản Việt Nam
chia rẽ về tư tưởng.
Kiến Giang kể với
tôi: “Sau khi trận Ấp Bắc ở miền Nam thắng lớn, Hoàng Tùng sang Liên Xô triệu tập
chúng tôi lại, nói: Mỹ thua đến nơi rồi, Liên Xô có quan hệ gì với ta thì chỉ
là để “dây máu ăn phần” mà thôi! Chỉ thị từ nhà sang là: cấm tham gia mọi hoạt
động mà Liên Xô tổ chức. Tôi và nhiều anh em lại nhận định khác. Liên Xô và Mỹ
hòa hoãn thì Mỹ sẽ đổ quân vào Việt Nam
và chiến tranh sẽ mở rộng, không có chuyện Mỹ thua ngay như ông Hoàng Tùng nói.
Thư tôi viết về cho gia đình còn đó, đúng như tôi nhận định”.
Sau này tôi có đọc
cuốn sách Điệp viên hoàn hảo nói về nhà tình báo chiến lược Phạm
Xuân Ẩn, thấy ông ấy cũng nhận định tình hình lúc đó như Kiến Giang. Đầu năm
2007 tôi có đem cuốn sách này đến tặng ông Sáu Kiệt (sách còn mới, chưa gạch
chân vào đó như cuốnTrang trại ở Pháp đã nói ở trên). Tôi nói với ông Sáu
Kiệt: Cả hai nhận định giống nhau, nhưng P.X.A. thì được ca ngợi là sáng suốt;
còn ở ngoài Bắc, sau đó Kiến Giang đi tù 9 năm! Ông Sáu Kiệt nói: Ở ngoài đó
các ông ấy hay bắt nhau đi tù quá!
Kiến Giang còn kể
cho tôi vào ngày 20/5/2004 tại Gò Vấp, nhà con gái ông ở đường Nguyễn Văn Nghi
(vì tôi có ghi chép vào sổ tay cuộc nói chuyện này nên còn nhớ rõ ngày giờ, địa
điểm): Vụ Liên Xô đưa tên lửa vào vùng biển Caribê của Cuba rồi rút ra làm cả
thế giới hồi hộp, một ông trong phe Mao-ít là Nguyễn Chí Thanh đã phê phán:
“Đưa vào là phiêu lưu, rút ra là đầu hàng”! Cụ Hồ phải gõ bút chì xuống bàn
nói: “Chú nói gì mà quá đáng thế!” Năm 1964 Dương Bạch Mai không phục tùng nghị
quyết 9, không thi hành nghị quyết 9 nên đã phải chết!
Chính vì thế mà
năm 1964, Kiến Giang và một số cán bộ đang học ở Liên Xô bị Trung ương gọi về.
Những người không tán đồng NQ 9 đang ở Liên Xô lúc đó như Minh Cần, Lê Vinh Quốc,
Văn Doãn, Nguyễn Lân Tuất… đã ở lại xin tỵ nạn chính trị.
Kiến Giang kể:
“Tôi suy nghĩ mãi, ở hay về, cuối cùng tôi và Hồng Hà quyết định về. Hồng Hà và
tôi được Lê Đức Thọ kêu lên gặp. Sau khi nghe Lê Đức Thọ phê phán, Hồng Hà rút
khăn ra lau nước mắt. Thọ nói: Cậu đã thấy lỗi là tốt! Anh ta được ra về và sau
đó thăng quan tiến chức đến Ủy viên Trung ương. Tôi ngồi chờ đến lượt mình,
nghe rõ câu chuyện hai vị nói với nhau, tôi chỉ được quyết định số phận của
mình có mấy giây. Tôi đã nói với Lê Đức Thọ: Khi ở Liên Xô, tôi tưởng mình nghe
nhầm, nay nghe chính đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị nói thì tôi càng thấy tôi
đúng! Thế là sau đó, tôi “đi thực tế” 3 năm từ 1964 đến 1967 ở Quảng Bình rồi
Thái Bình, sau đó là đi tù 6 năm, 3 năm quản chế! Cái giá của một câu nói thật
là thế!”.
Chuyện “nghe nhầm”
của Kiến Giang là như sau. Tại lớp học ở trường Đảng Cao cấp ở Liên Xô có nhiều
học viên là đảng viên các đảng Cộng sản các nước. Lúc đó có việc Tổng Bí thư
ĐCS Irak qua đời, vợ ông ta lại đang học cùng lớp với Kiến Giang và Hồng Hà. Lớp
học tổ chức truy điệu ông. Theo chỉ thị từ nhà thì các học viên Việt Nam không
được tham gia bất cứ hoạt động nào do Liên Xô tổ chức, nhưng Kiến Giang và Hồng
Hà cứ đến dự lễ truy điệu vì “nghĩa tử là nghĩa tận”; hơn nữa, nếu không đến
thì người ta sẽ đánh giá Việt Nam thế nào? Vậy mà Lê Đức Thọ không tha vụ đó.
Lê Đức Thọ, Trưởng
ban Tổ chức Trung ương và Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Công an trực tiếp tổ chức
cuộc bắt bớ đám xét lại chống Đảng năm 1967. Ngoài Hoàng Minh Chính và Kiến
Giang là những nhân vật nổi cộm, còn nhiều nhân vật cao cấp khác bị bắt, trong
đó có Vũ Đình Huỳnh – Vụ trưởng Vụ Lễ tân Bộ Ngoại giao, Đại tá Lê Trọng Nghĩa
– Cục trưởng Cục 2 (Quân báo) Bộ Quốc phòng, Lê Minh Nghĩa – Chánh Văn phòng Bộ
Quốc phòng, Nguyễn Đức Kiên – Cục trưởng Cục Tác chiến, Hoàng Thế Dũng – Tổng
biên tập báo QĐND, Minh Tranh – Giám đốc NXB Sự Thật, Trần Minh Việt – Phó Bí
thư kiêm Phó Chủ tịch UBND Hà Nội, v.v… Các vị Ung Văn Khiêm – Bộ trưởng Ngoại
giao, Đặng Kim Giang – Thứ trưởng Bộ Nông trường, Lê Liêm – Thứ trưởng Bộ Văn
hóa, Nguyễn Văn Vịnh, Bùi Công Trừng… bị khai trừ Đảng.
Theo nhà nghiên
cứu Sophie Quinn – Sudge viết trên tạp chí Journal of Cold War
Historytháng 11-2005 thì vụ án này có 300 người bị bắt, trong đó có 30 nhân vật
cao cấp, tất cả bị giam giữ lâu và không xét xử gì cả, rồi thả dần.
Kiến Giang cho
biết, Lê Đức Thọ sau này thuyết phục: Các cậu đi học xa không biết tình hình
trong nước. Vì sao lại có Nghị quyết 9? Ta đề nghị đặt tên lửa tầm trung để
đánh hạm đội 7, Liên Xô không cho thì đã có vũ khí của TQ. Chỉ có đồng chí Mao
Trạch Đông mới có dũng khí cách mạng và đủ trình độ lý luận để chống chủ nghĩa
xét lại.
Đến năm 1967 là
kỷ niệm 50 năm cách mạng Tháng Mười thành công, bên ngoài ta tung hô LX, vì nếu
không thì cũng không xong: 5/8/1964 Mỹ đã đánh phá miền Bắc bằng máy bay, bằng
chiến tranh phá hoại; nếu nghe TQ, nghe Đặng Tiểu Bình đoạn tuyệt hẳn với LX
thì lấy vũ khí (tên lửa) đâu ra mà đánh Mỹ? Vậy nên, bên ngoài thì Lê Duẩn
tuyên bố, có hai tổ quốc: LX và VN, bên trong, năm 1967, bắt xét lại “để làm
hài lòng TQ”! Vì thế Lê Đức Thọ đã có lần nói với Kiến Giang: “Các cậu ở tù
cũng là tham gia chống Mỹ cứu nước!” Nhắc lại câu này của Lê Đức Thọ, Kiến
Giang ở tuổi 74, đang đau yếu cũng không nén được tức giận, ông chửi thề: “Thật
bỉ ổi, ấu trĩ!”.
Kiến Giang nhớ rất
kỹ, …”bắt đợt đầu là Hoàng Minh Chính ngày 27/7/1967, Sau ba tháng thì bắt đợt
hai Vũ Đình Huỳnh, Minh Việt… vào ngày 18/10/1967…”.
Kiến Giang bị bắt
đưa đi trại giam Bất Bạt của quân đội và bị chuyển trại ba lần, có lần giam ở
trại Ba Sao. Ông kể về 5 năm bị giam trong xà lim: Có 4 mét vuông, như nhà mồ,
rét lắm vì cửa sổ hướng về phía Tây, phải đứng suốt ngày, tưởng là phát điên.
Tôi phải tự viết một cuốn tiểu thuyết trong đầu để khỏi phát điên, vì xin đi
lao động nó không cho đi… Gia đình chỉ được lên thăm có hai lần, năm 1969 ở Bất
Bạt, năm 1971 ở Ba Sao. Năm 1973 bắt đầu quản chế, 1975 quản chế ở xã Bối Khê
Vũ Ẻn.
… “Ở trong tù,
năm 1968 được tin đánh Mậu Thân, tôi biết trước là sẽ thua vì Mỹ chưa yếu như
các ông ấy nghĩ. Còn nếu thắng thì số phận bọn xét lại chúng tôi sẽ vô cùng đen
tối… Năm 1970 tôi đã viết thư cho Lê Đức Thọ về chuyện này…”.
Kiến Giang sở dĩ
trở thành nhân vật nổi cộm trong vụ án “Xét lại chống Đảng” vì cùng với Hoàng
Minh Chính ông là một nhà lý luận có kiến thức uyên bác, có tư duy sắc bén… Vì
thế Lê Đức Thọ có phần nể nang, nhưng vì ông không khóc lóc van xin, không khuất
phục như Hồng Hà, nên bầm dập. Ông kể: “Khi Lê Duẩn lên Tổng Bí thư, ông Trường
Chinh bảo tôi sang gặp anh Ba Duẩn để xin anh ấy các bài viết, các phát biểu…
đem về in thành sách. Theo ý ông Trường Chinh thì lãnh tụ phải có tác phẩm. Tôi
đã nghe lời sang gặp Lê Duẩn. Ông Duẩn rất cởi mở, đưa tôi một ôm tài liệu, bảo
muốn làm gì thì làm… Tôi đọc kỹ thấy ông Duẩn không hiểu gì về Chủ nghĩa Mác cả,
chỉ có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa… Khi trao đổi với Lê Đức Thọ khi ông vào thăm
tôi ở trong tù, tôi có nói ý đó. Thọ bảo tôi viết lại thành tài liệu đưa Thọ.
Thọ về rồi, tôi suy nghĩ kỹ. Thọ nham hiểm lắm, muốn lợi dụng tôi để lập hồ sơ
về Lê Duẩn, khi cần thì sử dụng. Đó là cách Thọ thường làm. Thì ra Thọ đã có ý
lật Lê Duẩn từ đó. Nghĩ thế nên tôi không mắc lừa, không viết gì phê phán Lê Duẩn
là dân tộc chủ nghĩa cả (!)…”.
Kiến Giang còn kể:
“Lần cuối cùng Lê Đức Thọ vào thăm tôi, ông ta nói: Các cậu hay đề cao trí thức,
phó tiến sỹ đi học về thì tớ cho thêm 5 đồng vào lương, thế thôi! Tôi nhìn thẳng
Thọ nói: Xưa Đảng vô học vì phải đi đánh giặc, nay Đảng có chính quyền mà Đảng
lại sùng bái sự vô học thì không được! Lê Đức Thọ đứng lên ra về. Ít phút sau
tay Giám thị trại giam vào hoảng hốt nói: Kỳ này thủ trưởng vào là để cho ông về,
vậy là chết rồi! Ông làm thủ trưởng phật lòng… vậy là tiếp tục tù dài!”.…
Kiến Giang là một
con người như thế, quyết liệt. Từ chỗ là một tín đồ ngoan đạo của Chủ nghĩ
Mác-Lênin, sùng bái LX, đến chỗ dứt khoát từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản. Lần đầu
tiên Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đưa ông xuống Mỹ Tho chơi với tôi vào năm 1988,
bác Viện đã giới thiệu: Đây là một nhà Xô viết học! Cậu có cần hỏi gì về LX, cứ
hỏi cái đầu này… Lúc đó LX đang cải tổ. Năm 1987, tức 70 năm LX, Kiến Giang còn
viết cuốn sách dày hơn 200 trang mang tựa đề Liên Xô 70 năm trên đường
khai phá (NXB Phú Khánh). Đọc kỹ cuốn sách đó, tôi thấy ông còn tin tưởng,
hy vọng là Đảng CSLX sẽ cải tổ thành công. Đùng một cái LX tan rã và thực tế ở
LX và Đông Âu, và cả ở VN những năm sau này đã đẩy tư duy của Kiến Giang đi đến
cùng. Ông đã viết tiểu luận Tôi từ bỏ CNCS như thế nào? Để công bố tư
tưởng của mình. Ông trở thành một nhà lý luận đổi mới hàng đầu, có uy tín lớn với
trí thức VN ở trong nước và trên thế giới. Trang web Talawas ngày 11/3/2013 đã
giới thiệu học giả Nguyễn Kiến Giang cả một bài dài.
Nhưng Kiến Giang
không phải một học giả của những vấn đề đã được xếp trong tủ kính. Ông đứng giữa
dòng sông đang chảy xiết của thời cuộc đất nước mà nghiên cứu, đề xuất, phán
xét, bất chấp mọi hiểm nguy. Ngày 22/8/1996 ông lại lãnh án 15 tháng tù treo
cùng với Lê Hồng Hà hai năm tù giam, Hà Sĩ Phu một năm tù giam của Toà án TP Hà
Nội về tội… lợi dụng quyền tự do dân chủ để chống đối chế độ!
Chính cái hôm
ông vừa lãnh án tù treo về, tôi gặp ông ở Hà Nội. Tôi hỏi: Cùng một tội, các vị
kia bị tù giam, anh được cái án treo coi như… tha bổng! Ông cười hóm hỉnh: Có lẽ
người ta thấy tôi tù nhiều quá rồi, có giam nữa cũng thế thôi!
Kể từ cái ngày
bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đưa ông đến chơi với tôi ở Mỹ Tho và ở lại chơi đến cả
tuần lễ vào năm 1988, năm nào ra Hà Nội tôi cũng đến thăm ông ở phố Tuệ Tĩnh và
sau này ở ngõ Lương Sử C gần Văn Miếu. Tôi đến để xin ý kiến ông về thời vận của
đất nước! Có lần ở 91 Tuệ Tĩnh, ông chỉ vào một hòn gạch trên nền nhà và nói:
“Chính tại cái hòn gạch này, tôi đã đứng để công an còng tay vào năm 1967, lúc
đó cả cái nhà tập thể của Nhà xuất bản Sự Thật này họ nhìn tôi như kẻ tội phạm
đáng ghét. Vậy mà bây giờ, họ chửi bới chế độ om xòm, còn tôi vẫn lặng lẽ đọc
và viết”…
Ông đã viết 25
tác phẩm và dịch 45 cuốn sách. Ông phải dịch để kiếm sống sau bao năm tù đày.
Đương nhiên sách dịch của ông phải ký các tên ba lăng nhăng để che mắt chính
quyền. Hai cuốn sách in trong nước của ông là cuốn Liên Xô – 70 năm trên
đường khai phá và cuốnCách mạng 1789 (Pháp) và chúng ta… Sau khi cuốn Cách
mạng 1789… ra đời, Đại sứ Pháp tại Hà Nội đã đến nhà Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện
mời ông qua Pháp dự lễ kỷ niệm 200 Cách mạng Pháp (1789 – 1989) tại Paris. Bác
sĩ Viện đã nói với nhân viên Sứ quán Pháp rằng người viết cuốn sách đó là Nguyễn
Kiến Giang, ông chỉ cho mượn tên đề ngoài bìa sách mà thôi! Người Pháp lại tìm
đến Kiến Giang. Ông phải nói với họ rằng ông không thể đi được… dù mọi chi phí
đi lại, ăn ở ông không phải lo!
Những lần ra
chơi với Kiến Giang như vậy, tôi đều tặng ông những cuốn sách tôi mới in, với lời
đề tặng đại loại như: Kính tặng anh Kiến Giang, một trí tuệ lớn, một
nhân cách lớn… Chúng tôi nhìn vào anh để sống và hy vọng cho tương lai đất
nước… Ở dưới có đề rõ địa chỉ và họ tên người tặng sách. Kiến Giang bảo
tôi: “Cuốn sách của cậu tặng, moi (tôi) để trên bàn tiếp khách, một
viên công an theo dõi moi, thường xuyên đến nhà “thăm hỏi”, đã giở ra
coi. Anh ta coi đi coi lại lời đề tặng của cậu như để thuộc… để ghi vào hồ sơ của moi…”.
Cũng vì tôi hay đến chơi Kiến Giang như thế nên đã có lần chạm trán với nhân
viên an ninh và đã bị truy tìm lý lịch.
Sau Tết năm
2000, tôi lại đến thăm ông. Kiến Giang bảo tôi: Hôm mùng một Tết, tướng Phạm
Chuyên (Giám đốc CA Hà Nội) có đến thăm chúc Tết và cho quà. Ông ấy hỏi tôi:
Anh nhận định tình hình thế nào? Tôi trỏ lên cuốn lịch nói: Năm 2000 có ba con
số 0. Phạm Chuyên đề nghị tôi nói về ba con số 0 ấy. Tôi nói: Thứ nhất là không
còn đường lùi, thứ hai là không tiến lên được… Phạm Chuyên sốt ruột: Còn con số
0 thứ ba nữa? Tôi nói: Nhưng không phải là không có lối thoát. Phạm Chuyên vỗ
tay: Hay quá, tôi mời anh đến gặp đồng chí Tổng Bí thư (lúc đó là Lê Khả Phiêu
– LPK) để anh phân tích về từng con số 0 một cho TBT nghe! Tôi trả lời: Tôi
không phải là thầy bói, tôi là nhà khoa học. Nếu cần thì các anh tổ chức hội thảo
khoa học để tôi đến trình bày đàng hoàng.
Dĩ nhiên là
không có hội thảo nào sau đó. Nhưng cũng có những cuộc hội thảo kín, người ta mời
Kiến Giang đến tham luận và yêu cầu ông không phổ biến rộng rãi tham luận đó. Nộp
lại tham luận và nhận nhuận bút rất cao. Ông nói với tôi: Mình được mời đi tham
luận là sẵn sàng… vì có nhuận bút cao cũng đỡ!
Sau ngày Đổi mới,
Kiến Giang được phục hồi sổ hưu. Ông đưa quyển sổ hưu cho tôi coi và chỉ tay
vào chỗ có đóng dấu, nói: Cậu xem có lạ không? Sổ hưu của tôi dấu vuông. Dấu của
Đảng. Không có Nhà nước pháp quyền nào trả lương hưu với dấu vuông của Đảng cả
(!)
Kiến Giang là
như thế, bao giờ ông cũng đi đến tận cùng mọi vấn đề, và trên hết, ông là một
nhà xã hội học đúng với tên của nó. Độc lập quan sát xã hội. Tôi đã được đọc tập
tiểu luận của ông trong một cuộc “hội thảo kín” như ông đã kể. Tập tiểu luận
tham luận có chủ đề ‘‘bàn về chủ nghĩa anh hùng cách mạng và con người mới
XHCN”. Trong tập tiểu luận đó, ông đã dẫn ra tất cả những lời có dính đến hai
chữ “con người” mà ông Hồ Chí Minh đã nói tới trong tất cả những gì đã được in
ra từ trước đến nay. Chỉ riêng việc thống kê đầy đủ như thế đã cho thấy tính
nghiêm túc khoa học trong tham luận của Kiến Giang (trả nhuận bút cao là phải!).
Qua những thống kê đó, tác giả đi đến kết luận: ông Hồ coi người cán bộ, đảng
viên là lõi cốt của cách mạng. Nhưng ông bác bỏ hoàn toàn khái niệm “Con người
mới”. Theo ông, trong con người có cái mới và cái cũ không thể tách biệt để có
“con người mới” như đã ảo tưởng! Và, tác giả cũng bác bỏ hoàn toàn quan niệm
“cán bộ là đầy tớ” của nhân dân. Theo ông, cán bộ cấp cao thì phải hưởng thụ
cao và phải có cống hiến xứng đáng với hưởng thụ. Còn giữ khẩu hiệu “đầy tớ
nhân dân” thì sẽ dẫn đến giả dối, đến hội nghị nói một đằng, về làm một nẻo.
Còn giữ khẩu hiệu này sẽ làm mất uy tín của ông Hồ. Ông Hồ nêu khẩu hiệu này
trong những điều kiện đặc biệt; nay thời gian, không gian đã khác, phải cất nó
vào quá khứ để xây dựng một xã hội công dân thực sự, một nhà nước pháp quyền thực
sự. Kiến Giang bảo tôi: Bản tham luận được vỗ tay nhiệt liệt, người vỗ tay toàn
là “đầy tớ”!
Kiến Giang là một
nhà xã hội học thực sự trong một đất nước không hề có khoa học xã hội, chỉ có
những vị giáo sư “ăn theo, nói leo” minh họa lời ông lớn, minh họa các nghị quyết
của Đảng cầm quyền để vinh thân phì gia. Hãy đọc đầu đề các tập tiểu luận (chủ
yếu là tự viết, tự in lấy) của ông, đủ thấy không mấy ai đặt bút viết về các đề
tài “nhạy cảm” này: Đi tìm cách tiếp cận bản tính gốc người Việt, Một cuộc
chiến chống lại “phi lý tính”, Nên đặt vấn đề Nho giáo như thế nào?, Khủng hoảng
và lối ra, Thử dò tìm cách tiếp cận mới đối với thế giới hiện đại, Một quan niệm
về hiện đại hóa ở VN, Đời sống tâm linh và ý thức tôn giáo, Từ Duy Tân đến Đổi
mới, Nhìn nhận thực trạng văn hoá VN hiện nay, Công bằng xã hội và kinh tế,
Nhìn lại quá trình du nhập của chủ nghĩa Mác-Lênin vào VN, Bàn về sự lãnh đạo của
Đảng, v.v…
Tôi có may mắn
và hạnh phúc được đọc hầu hết các tiểu luận trên của ông để lấy thêm vốn liếng
hành nghề báo của mình. Một tiểu luận của ông như thế có độ dày đủ để in một cuốn
sách giá trị. Nhiều tác phẩm của ông đã được bà con Việt kiều quan tâm đến tình
hình nước nhà in ra và gửi về nước… tặng lại tác giả. Có lần Kiến Giang đưa tôi
coi một cuốn sách in rất đẹp ở nước ngoài do chính nhân viên an ninh theo dõi
ông đem đến. Anh ta hỏi: Bác đã nhận được cuốn sách này của bác chưa? Kiến
Giang bảo tôi: Mình nói với cậu công an là mình chưa nhận được và cảm ơn cậu
ta. Hóa ra tác phẩm của mình được chăm sóc kỹ thế, được in mà tác giả không biết!
Có hai tiểu luận
của Kiến Giang mà tôi đọc đến thuộc từng ý chính. Một là Khủng hoảng và lối
ra. Trong đó Kiến Giang cho rằng cỗ xe VN mới chỉ lắp được có một bánh là
kinh tế thị trường. Vì thế khi nổ máy, cỗ xe ấy chạy vòng tròn! Nó còn thiếu ba
bánh nữa phải lắp đủ để cỗ xe bốn bánh VN có thể chạy ra con đường lớn của nhân
loại. Ba cái bánh còn thiếu đó là: Xã hội công dân, Nhà nước pháp quyền và Chế
độ bầu cử tự do dân chủ. Kiến Giang nói một cách hài hước với tôi: Các nhà lãnh
đạo VN lái xe, một chân thì đạp ga, một chân lại vội vàng đạp thắng (phanh), vừa
cài số tiến lại vội vàng cài số lùi… Vì thế cỗ xe cứ nhảy tưng tưng trên đường
và không biết lúc nào thì lật!
Tiểu luận thứ
hai của ông, ít được nhắc đến, vô cùng bất ngờ, có nhan đề Bàn về cái chết. Khi
đưa tác phẩm này cho tôi, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện nói: Nó rất uyên bác, tôi đã
đọc nhiều sách đông tây mà chưa thấy tác giả nào dám bàn đến chuyện con người từ
xưa đến nay đã quan niệm về cái chết như thế nào. Đáng lẽ cuốn sách như thế này
phải được in vì nó không đề cập gì đến chính trị, nhưng vì là của Kiến Giang viết
nên không ai dám in! Tôi đã đọc rất kỹ tiểu luận này. Tác giả trích cả lời Khổng
Tử. Khi học trò hỏi thầy Khổng: Người chết có biết gì không? Thầy trả lời: Nếu
người chết mà biết thì những đứa con có hiếu sẽ chết theo bố mẹ. Nếu người chết
mà không biết gì thì những đứa con bất hiếu sẽ không chôn cất bố mẹ. Nói người
chết biết là bất trí, nói người chết không biết là bất nhân…
Lần Kiến Giang
vô Sài Gòn mà tôi gặp gần đây nhất, cũng đã 4-5 năm. Khi đó ông đi đã phải có
người dìu. Ông bảo tôi và mọi người: Cuối đời ông Viện có một vết nhơ. Thấy ông
nói thế, tôi ngạc nhiên quá, vì ông với ông Viện là bạn chí thân. Ông còn mượn
tên ông Viện để in sách. Thấy tôi có vẻ bức xúc ông từ tốn nói: “Cuối đời mà
vào nghĩa trang Mai Dịch để nằm thì không phải là vết nhơ còn gì nữa?”.
Tôi đã đem chuyện
trên nói với một nhà báo nổi tiếng, cũng là người thân cận với bác sĩ Nguyễn Khắc
Viện. Nghe xong ông nổi nóng: “Kiến Giang là tên cơ hội, nói bậy, vào Mai Dịch
là sự khẳng định công lao của con người ông với đất nước!”.
Tôi để cho ông
nguôi giận rồi từ tốn nói: “Kiến Giang nói đúng. Ở Pháp được đưa thi hài vào Viện
Panthéon là các danh nhân, ở ta cứ ủy viên trung ương là vào Mai Dịch, nay mai
anh Viện có vinh dự được nằm cạnh anh Vũ Văn Hiến, Tổng Giám đốc đài Truyền
hình VN… là kẻ “đi không biết đường lại, đái không biết đường về”, chuyên nghề
đi biếu xén và tham ô, con gái ông ta ăn cắp ở Thụy Điển bị bắt quả tang mà vẫn
được làm MC của Đài THVN. Được nằm cạnh một con người như thế chắc ông Nguyễn
Khắc Viện… mỉm cười nơi chín suối (!)
Nghe tôi nói
xong, ông ngồi thừ ra và chặc lưỡi: - Ừ nhỉ!
Con người mặt
vuông chữ điền, cao to, đi lại, ăn nói khoan thai, yêu quí bạn bè ấy… bây giờ yếu
nặng, đi phải có người dìu từng bước. Và hôm nay ông đã bỏ chúng ta mà đi! Bên
tai tôi luôn văng vẳng lời ông:
- Bắt bọn “xét lại
chống Đảng” là “cách mạng đã bắt đầu ăn thịt những đứa con của mình”… “Chúng ta
không sợ lạc hậu, sợ nhất là lạc lõng giữa loài người…”
TG: LÊ PHÚ KHẢI
Nguồn: Bùi Văn Bồng